Bảo hộ quyền tác giả

Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu. Quyền tác giả được ghi nhận cho các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học như sách, bài giảng, tác phẩm âm nhạc, tác phẩm sân khấu, tác phẩm điện ảnh, tác phẩm tạo hình và mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm nhiếp ảnh, tác phẩm kiến trúc, phần mềm máy tính. Vậy điều kiện để được bảo hộ quyền tác giả như thế nào? Và quyền tác giả bảo hộ cho những đối tượng nào?

 1. Điều kiện được bảo hộ quyền tác giả

Thứ nhất, tác phẩm phải có tính nguyên gốc. 

Tính nguyên gốc được hiểu là tác phẩm được sáng tạo ra một cách độc lập và không sao chép từ bất kỳ một tác phẩm nào khác. Việc bảo hộ quyền tác giả chỉ được áp dụng đối với những đóng góp mang tính nguyên gốc cho tác phẩm và không được áp dụng đối với bất kỳ yếu tố nào vay mượn từ các tác phẩm khác. Ví dụ, rất nhiều các tác phẩm âm nhạc trong và ngoài nước bị “ăn cắp”, những bức tranh nổi tiếng của danh họa Bùi Xuân Phái luôn là đối tượng của những kẻ chuyên sao chép và làm giả tranh, tuy nhiên những bức tranh “giả” đó sẽ không được bảo hộ, bởi nó không tuân thủ tính nguyên gốc và không thể hiện sự sáng tạo một cách độc lập. Nhưng cùng một ý tưởng về tình yêu đất nước lại thể hiện dưới một hình thức khác nhau như bài thơ Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm, bài hát Đất nước của nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn thì những tác phẩm này được bảo hộ như nhau. Nói cách khác, một tác phẩm muốn được bảo hộ phải do chính lao động trí óc của tác giả tạo ra.

Thứ hai, tác phẩm phải được định hình dưới một hình thức nhất định.

Theo pháp luật Việt Nam, thì tác phẩm phải được định hình dưới một dạng vật chất nhất định. Tác phẩm không được bảo hộ quyền tác giả dưới dạng ý tưởng. Nghĩa là tác phẩm phải được viết trên giấy, lưu trữ trong đĩa, vẽ bằng sơn dầu, ghi vào bằng. Ví dụ: một ý tưởng sáng tác bài hát của một người chưa được thể hiện trên giấy hay thu âm lại mà để người khác biết. Nếu có hành vi “ăn cắp” bài hát sáng tác thì người đó cũng sẽ không được bảo hộ quyền tác giả.

2. Đối tượng được bảo hộ quyền tác giả

Theo quy định tại Điều 14 Luật SHTT năm 2005 (sửa đổi bổ sung năm 2009), chỉ những loại hình tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học sau:

– Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác;

– Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác;

– Tác phẩm báo trí;

– Tác phẩm âm nhạc;

– Tác phẩm sân khấu;

– Tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tại ra theo phương pháp tương tự;

– Tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng;

– Tác phẩm nhiếp; 

– Tác phẩm kiến trúc;

– Bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, công trình khoa học;

– Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian;

– Chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu.

Và tác phẩm phái sinh chỉ được bảo hộ nếu không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh. Tác phẩm phái sinh là tác phẩm dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, tác phẩm phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn. Ví dụ như: nếu một tác giả muốn dịch một cuốn tiểu thuyết sang một ngôn ngữ khác thì phải được sự cho phép của chủ sở hữu cuốn tiểu thuyết sẽ được dịch. Dịch một tác phẩm mà không có sự cho phép của chủ sở hữu sẽ khiến dịch giả đó rơi vào tình trạng xâm phạm quyền tác giả.

Tuy nhiên, có những đối tượng không phải thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả được quy định tại điều 15 Luật SHTT 2005 SĐBS 2009:

– Tin tức thời sự thuần túy đưa tin là các thông tin báo chí ngắn hàng ngày, chỉ mang tính chất đưa tin không có tính sáng tạo.

– Văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, văn bản khác thuộc lĩnh vực tư pháp và bản dịch chính thức của văn bản đó bao gồm văn bản của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị – xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và các tổ chức khác theo quy định của pháp luật.

– Quy trình, hệ thống, phương pháp hoạt động, khái niệm, nguyên lý, số liệu. 

3. Thời hạn bảo hộ quyền tác giả

Không giống với các quyền sở hữu trí tuệ khác yêu cầu phải được đăng ký, việc bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan đối với một tác phẩm sẽ tự động, không cần đăng ký, nộp lưu, nộp phí hay thực hiện bất cứ một thủ tục hành chính nào khác. Quyền tác giả chỉ được bảo hộ có thời hạn. Khi quyền tác giả hết hạn, tác phẩm không được bảo hộ nữa và được coi là thuộc về sở hữu công cộng.

– Luật Việt Nam quy định thời hạn đó là suốt cuộc đời tác giả và 50 năm sau khi tác giả chết. Trong trường hợp đồng tác giả thì thời hạn 50 năm, tính từ khi tác giả cuối cùng chết.

– Đối với tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm khuyết danh có thời hạn bảo hộ là 75 năm, kể từ khi tác phẩm công bố lần đầu. Trong thời hạn 25 năm kể từ khi được định hình, nếu tác phẩm loại này chưa công bố thì thời hạn bảo hộ là 100 năm, tính từ khi tác phẩm được định hình. Quy định như vậy nhằm khuyến khích tác giả sớm công bố tác phẩm phục vụ xã hội.

– Đối với tác phẩm khuyết danh, khi danh tính của tác giả xuất hiện thì thời hạn bảo hộ được tính theo nguyên tắc đời người, có nghĩa thời hạn bảo hộ là suốt cuộc đời tác giả và 50 năm sau khi tác giả chết. Thời điểm kết thúc thời hạn bảo hộ vào lúc 24 giờ ngày 31 tháng 12 của năm kết thúc thời hạn bảo hộ.