Các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự chưa được áp dụng từ 01/07/2016

Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 được ban hành ngày 25/11/2015, có hiệu lực từ ngày 01/07/2016. Tuy nhiên, không phải tất cả các điều luật đều có hiệu lực từ ngày này, mà một số nội dung phải lùi thời hạn thi hành để tương ứng với các quy định tại Bộ luật dân sự năm 2015, có hiệu lực từ 01/01/2017. Cụ thể như sau:

  1. Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng

Các nhà lập pháp của nước ta luôn cố gắng hoàn thiện hệ thống pháp luật, đảm bảo điều chỉnh toàn diện các quan hệ pháp luật trong đời sống. Tuy nhiên, cuộc sống luôn biến động không ngừng và pháp luật không thể dự liệu hết được tất cả những vấn đề sẽ phát sinh. Do vậy, sẽ có những vụ việc dân sự chưa có quy định của pháp luật điều chỉnh. Trước đây, với những trường hợp này, các Tòa án thường hay lựa chọn từ chối giải quyết với lý do “chưa có điều luật để áp dụng”. Tuy nhiên, Khoản 2 Điều 4 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng; và việc giải quyết vụ việc dân sự này được thực hiện theo các nguyên tắc do Bộ luật dân sự và Bộ luật tố tụng dân sự. Cụ thể, những trường hợp này, Tòa án sẽ áp dụng tập quán để giải quyết; nếu không có tập quán thì áp dụng tương tự pháp luật; nếu vẫn đủ cơ sở để giải quyết được thì áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng.

Như vậy, các quy định tại Khoản 2 Điều 4, Điều 43, Điều 44, Điều 45 quy định về thẩm quyền, trình tự thủ tục thụ lý, giải quyết vụ việc dân sự khi chưa có điều luật để áp dụng sẽ bị lùi hiệu lực thi hành cho đến khi Bộ luật dân sự năm 2015 có hiệu lực.

  1. Quy định liên quan đến người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

Bộ luật Dân sự năm 2005 có các quy định liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người mất năng lực hành vi dân sự (do bị bệnh tâm thần và một số bệnh khác) và hạn chế năng lực hành vi dân sự (do nghiện ma tuý, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình). Tuy nhiên, trên thực tế, có rất nhiều người đã thành niên nhưng do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự, nếu pháp luật vẫn coi họ là những người thành niên bình thường thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quyền và lợi ích của họ. Do vậy, Điều 23 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã bổ sung quy định về trường hợp này – những người có khó khan trong nhận thức và làm chủ hành vi. Theo đó, theo yêu cầu của những người này hoặc người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định người giám hộ, xác định quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.

Tương ứng với những quy định trên, pháp luật tố tụng dân sự cũng quy định cụ thể về thẩm quyền, trình tự thủ tục để giải quyết yêu cầu tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi. Cùng với đó là những quy định về năng lực hành vi tố tụng dân sự; việc thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự; việc lấy lời khai; việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Những quy định nêu trên cũng có hiệu lực thi hành từ 01/01/2017.

  1. Quy định liên quan đến áp dụng thời hiệu

Bộ luật Dân sự 2015 có hiệu lực sẽ dẫn đến việc sửa đổi hàng loạt các quy định về thời hiệu. Cụ thể:

– Thời hiệu khởi kiện về hợp đồng, khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại được tăng từ 02 năm đến 03 năm;

– Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản trước đây là 10 năm với tất cả các loại tài sản, nay được chia thành 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Khoản Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự được thực hiện theo quy định của Bộ luật dân sự”. Hơn thế nữa, pháp luật tố tụng còn bổ sung quy định về thời hiệu như sau:. “Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc. Người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền từ chối áp dụng thời hiệu, trừ trường hợp việc từ chối đó nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ”.

Do vậy, những quy định liên quan đến vấn đề thời hiệu nêu trên sẽ được áp dụng kể từ ngày 01/01/2017.

  1. Quy định liên quan đến pháp nhân là người đại diện, người giám hộ

Theo quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2005, người đại diện chỉ có thể là cá nhân; còn người giám hộ có thể là cá nhân hoặc tổ chức. Nhưng theo quy định tại Điều 46 và Điều 134 Bộ luật Dân sự năm 2015, người đại diện và người giám hộ đều có thể là cá nhân hoặc pháp nhân.

Do vậy, những quy định có liên quan đến việc pháp nhân là người đại diện, người giám hộ của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 cũng chưa được áp dụng ngay, mà được hoãn tới ngày 01/01/2017.