Chế độ hưu trí khi nghỉ hưu sớm

Câu hỏi:

Bác tôi được nhận vào làm việc tại một công ty từ năm 1990 và có đóng bảo hiểm xã hội từ đó đến nay. Đến năm 2011, bác bị tai nạn lao động do sơ suất trong quá trình vận hành máy, bị suy giảm 28% khả năng lao động. Tháng 05/2016, do vết thương tai nạn lao động tái phát, bác phải vào viện điều trị 2 tháng. Sau khi giám định lại, Hội đồng y khoa kết luận bác bị suy giảm 65% khả năng lao động. Trong những năm làm việc, bác có tới 16 năm làm công việc đặc biệt nặng nhọc độc hại, hiện nay bác đã 49 tuổi nên làm đơn xin nghỉ hưu. Vậy cho tôi hỏi, khi bị tái phát vết thương do tai nạn lao động bác có được hưởng trợ cấp gì hay không? Và bây giờ bác mới 49 tuổi thì khi nghỉ hưu, bác tôi có được hưởng lương hưu hay không? Nếu có mức hưởng là bao nhiêu? Xin cảm ơn!

Chào bạn, với nội dung câu hỏi của bạn, Văn phòng luật sư Đỗ Trung Kiên và cộng sự xin được tư vấn cụ thể như sau:

  1. Về chế độ tai nạn lao động:

Căn cứ vào Điều 42, 43 Luật Bảo hiểm xã hội 2014, bác bạn bị tai nạn tại nơi làm việc và trong giờ làm việc, suy giảm khả năng lao động trên 5%, do vậy hoàn toàn thuộc đối tượng và đủ điều kiện để hưởng chế độ tai nạn lao động. Cụ thể, vào năm 2016, khi vết thương tái phát, mức suy giảm khả năng lao động của bác bạn là trên 31% nên được hưởng trợ cấp hàng tháng (Điều 47). Mức trợ cấp như sau:

+ Trợ cấp tính theo mức suy giảm khả năng lao động: 31% đầu tương ứng 30% mức lương cơ sở, 34% còn lại tương ứng 34 x 2 = 68% mức lương cơ sở. Tổng cộng là 98% mức lương cơ sở (mức lương cơ sở hiện nay là 1.210.000 đồng).

+ Trợ cấp tính theo năm đóng bảo hiểm: đến năm 2016, bác bạn đã có 26 năm đóng Bảo hiểm xã hội, như vậy: 1 năm đầu tương ứng với 0,5% tháng lương liền kề, 25 năm còn lại tương ứng 25 x 0,3 = 7,5% tháng lương liền kề trước khi nghỉ việc để điều trị. Tổng cộng là 8% tháng lương liền kề.

Như vậy, giả sử tháng lương liền kề trước khi bác bạn nghỉ việc để điều trị là 8.000.000 đồng, thì hàng tháng bác bạn sẽ được hưởng mức trợ cấp là:

(98% x 1.210.000) + (8% x 8.000.000) = 1.825.800 đồng.

  1. Về chế độ hưu trí:

Bác bạn là người lao động làm việc theo hợp đồng lao động, đến năm 2016 đã có 26 năm đóng bảo hiểm xã hội, bị suy giảm khả năng lao động 65%, có 16 năm làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại. Đến năm 2016 bác bạn 49 tuổi và làm đơn xin nghỉ hưu. Như vậy, theo điểm c, Khoản 1, Điều 55, Luật Bảo hiểm xã hội 2014, bác bạn đủ điều kiện để hưởng lương hưu, tuy nhiên, với mức thấp hơn so với người đủ điều kiện hưởng lương hưu theo độ tuổi thông thường (nam là từ đủ 55 tuổi với người làm trong môi trường đặc biệt nặng nhọc độc hại).

Theo Khoản 1, Điều 56, bác bạn có 26 năm đóng bảo hiểm xã hội, mức lương hưu hằng tháng của bác bạn nếu bác có đủ điều kiện thông thường về độ tuổi được tính như sau: 15 năm đầu tương ứng 45%, 11 năm còn lại tương ứng 11 x 2 = 22%, tổng cộng là 67% tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội.

Tuy nhiên, cho dù bác bạn có 16 năm làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nhưng bác bạn nghỉ hưu khi mới 49 tuổi, chưa đủ điều kiện về độ tuổi theo quy định tại điểm b, Khoản 1, Điều 54 là nam từ đủ 55 tuổi, cho nên, căn cứ vào Khoản 3, Điều 56, bác bạn nghỉ hưu trước 6 năm, mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi quy định bác bạn sẽ bị giảm 2% mức lương hưu. Như vậy, mức lương hưu thực tế bác bạn nhận được là:

67% – 6 x 2% = 55% tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội.

Thời điểm bác bạn được hưởng lương hưu là thời điểm ghi trong quyết định nghỉ việc do Công ty lập khi xem xét bác đã có đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định của pháp luật.

Bác bạn tham gia bảo hiểm xã hội trước ngày 1 tháng 1 năm 1995, cho nên mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội để tính lương hưu là bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 5 năm cuối trước khi nghỉ hưu (điểm a, Khoản 1, Điều 62).

Như vậy, mức lương hưu mà bác bạn sẽ nhận được là 51% bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 5 năm cuối trước khi nghỉ hưu.