Phân biệt đầu thú và tự thú

Trong đời sống thực tế, nhiều người dân vẫn thường nhầm lẫn khi cho rằng khái niệm “tự thú” và “đầu thú” là giống nhau và đều được Nhà nước cho hưởng những chính sách khoan hồng như nhau. Tuy nhiên, trong tố tụng hình sự, đầu thú và tự thú rất khác nhau về bản chất pháp lý và cũng có tác động không nhỏ tới sự khác biệt về quyết định hình phạt trong mỗi trường hợp. Bài viết dưới đây của Văn phòng luật sư Đỗ Trung Kiên và cộng sự sẽ giúp bạn đọc có được cái nhìn phân biệt rõ ràng nhất về tự thú – đầu thú và ảnh hưởng của những hành vi này đối với người thực hiện tội phạm.

Văn bản pháp luật đầu tiên quy định chi tiết về tự thú và đầu thú đó là Thông tư liên ngành số 05-BNV-TANDTC-VKSNDTC-BTP/TTLT ngày 02 tháng 06 năm 1990. Tuy nhiên, đến ngày 10 tháng 06 năm 2002, Tòa án nhân dân tối cao ban hành Công văn số 81/2002/TANDTC thì mới chính thức định nghĩa thế nào là tự thú và đầu thú. Theo Công văn này:

– “Tự thú” là tự mình nhận tội và khai ra hành vi phạm tội của mình, trong khi chưa ai phát hiện được mình phạm tội.

– “Đầu thú” là có người đã biết mình phạm tội, nhưng biết không thể trốn tránh được nên đến cơ quan có thẩm quyền trình diện để cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật.

Như vậy, theo định nghĩa nêu trên thì điểm mấu chốt để phân biệt đầu thú và tự thú đó là: đã có ai ngoài bản thân biết được mình đã phạm tội hay chưa? Lấy ví dụ thứ nhất: anh Nguyễn Văn A thấy nhà anh B đi vắng nên đã lẻn sang cậy cửa và lấy trộm chiếc xe đạp trị giá 03 triệu đồng. Đương nhiên nhà anh B biết bị mất xe đạp nhưng không biết do ai lấy. Sau 01 tháng, anh A thấy hối lỗi, chủ động mang xe sang trả gia đình anh B đồng thời ra cơ quan công an để khai báo về hành vi phạm tội của mình. Trường hợp này anh A được coi là tự thú. Ví dụ thứ hai: chị Phan Thị X đang trên đường đi làm về buổi tối thì gặp anh Y là người cùng làng. Anh Y thấy chị X xinh xắn liền nảy sinh dục vọng muốn cưỡng đoạt. Do vậy, anh Y đã tiếp cận, dùng sức lực để đẩy chị X xuống bãi cỏ và bắt đầu có những hành vi cởi quần áo trên người chị X. Tuy nhiên, đúng lúc đó có người đi xe máy đi qua, anh Y sợ hãi liền vội vàng mặc lại quần áo và chạy trốn. Trong lúc bỏ trốn, anh Y nghĩ lại biết chị X chắc chắn đã nhìn thấy mặt mình, biết mình là ai và sẽ tố cáo ra công an, do vậy, Y đến cơ quan công an khai báo về hành vi của mình. Trường hợp này, Y được coi là đầu thú.

Điều 3 Bộ luật hình sự 1999 quy định về nguyên tắc xử lý tội phạm hình sự đó là: “Khoan hồng đối với người tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác người đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại  gây ra”. Tuy nhiên, so sánh giữa hai hành vi có thể thấy được mức độ tự nguyện, chủ động, ăn năn hối cải của người phạm tội ra tự thú lớn hơn rất nhiều so với ra đầu thú. Do đó, mức độ xem xét để giảm nhẹ hình phạt trong hai trường hợp này cũng có sự khác nhau đáng kể.

Thứ nhất, việc xem xét miễn trách nhiệm hình sự chỉ áp dụng với người phạm tội tự thú, không áp dụng trong trường hợp đầu thú. Cụ thể, Khoản 2 Điều 25 Bộ luật hình sự 1999 quy định: “Trong trường hợp trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội đã tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm, thì cũng có thể được miễn trách nhiệm hình sự”. Như vậy, để được miễn trách nhiệm hình sự, người phạm tội phải có đầy đủ các điều kiện sau:

+ Tội phạm mà người phạm tội tự thú thực hiện chưa bị phát giác (tức là chưa có ai biết đã có hành vi phạm tội xảy ra, hoặc biết nhưng cũng không biết ai là thủ phạm).

+ Người tự thú phải khai rõ tất cả những hành vi đã thực hiện, những tình tiết của sự việc, khai ra đồng phạm nếu có, góp phần hiệu quả vào việc phát hiện điều tra tội phạm. Ví dụ, cũng trong trường hợp trộm cắp tài sản, Nguyễn Văn C lấy trộm của nhà anh D 10 cây vàng cùng một số nhẫn, dây chuyền khác. Sau khi D lấy trộm đã mang số tài sản trên chôn ở nhiều nơi khác nhau. Khi chưa tìm được hung thủ là ai, C đã đến khai báo hành vi phạm tội của mình với cơ quan cảnh sát điều tra. Tuy nhiên, C chỉ khai đã lấy trộm vàng và chỉ cung cấp thông tin về nơi giấu vàng, tuyệt nhiên không nhắc đến số nữ trang còn lại. Trong quá trình điều tra, khám xét, cơ quan cảnh sát phát hiện ra ngoài số vàng mà C khai báo, C còn giấu giếm nữ trang ở nơi khác. Do vậy, trường hợp này mặc dù C tự thú nhưng đã chưa khai báo thành khẩn tất cả các sự việc, nên không được miễn trách nhiệm hình sự.

+ Người tự thú cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm như: trả lại cho chủ sở hữu tài sản đã chiếm đoạt; thông báo kịp thời cho người bị hại biết những gì đang đe doạ đến tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm danh dự hoặc tài sản để họ đề phòng; đòi lại hoặc thu lại những phương tiện, công cụ hoặc các nguồn nguy hiểm mà họ đã giao hoặc đã tạo ra cho người đồng phạm khác hoặc cho những lợi ích khác… Chẳng hạn như: vì nghi ngờ chị H có quan hệ bất chính với chồng mình, chị K đã thuê một nhóm người theo dõi và đe dọa, đánh “dằn mặt” chị H. Tuy nhiên, khi thấy chị H rất xinh đẹp, nhóm nam thanh niên nổi lên ý đồ muốn hiếp dâm và gọi điện cho chị K nói rằng sẽ “xử nặng tay” giúp chị rồi tắt máy. Cuộc điện thoại khiến chị K lờ mờ đoán được ý đồ của đám thanh niên, chị K vội vàng gọi điện cho H để thông báo nhưng không thấy H nghe máy. Sau đó, chị K đã đến trình báo tại cơ quan công an, nhanh chóng cung cấp tất cả những thông tin về đám thanh niên, nơi làm việc, nơi ở và lộ trình theo dõi để cơ quan công an mau chóng tìm được. Nhờ có những thông tin của chị K, công an đã lập tức phát hiện ra đám thanh niên đã chặn chị H đưa vào một nơi hoang vắng gần nơi làm việc, đang có hành vi dọa dẫm đe nạt và đùa cợt nhưng chưa xảy ra sự xâm hại nghiêm trọng nào với chi H. Trong trường hợp này, chị K có thể được xem xét để miễn trách nhiệm hình sự.

Thứ hai, cùng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhưng tự thú là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, còn đầu thú chỉ được xem xét tại Khoản 2.

+ Điểm o Khoản 1 Điều 46 quy định trường hợp “người phạm tội tự thú” được coi là một trong những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Trong khi đó, Điều 47 quy định: “Khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật này, Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật; trong trường hợp điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất của điều luật, thì Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án”. Như vậy, chỉ khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 1 thì người phạm tội mới được xem xét áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

+ Nếu người phạm tội đầu thú thì trong thực tế, Hội đồng xét xử vẫn coi đây là một trong những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Nhưng nếu chỉ có tình tiết là đầu thú và một tình tiết giảm nhẹ nữa được quy định tại Khoản 1 thì vẫn không đủ cơ sở pháp lý để Hội đồng xét xử xem xét quyết định mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

Như vậy, nhận biết được như thế nào về tự thú và đầu thú và những chính sách của Nhà nước áp dụng đối với hai trường hợp này, sẽ giúp cho người phạm tội có những suy nghĩ tích cực, lạc quan hơn sau khi thực hiện tội phạm, nhanh chóng khai báo thành khẩn mọi tình tiết sự việc với cơ quan điều tra, ăn năn hối lỗi, góp phần hạn chế thấp nhất hậu quả của tội phạm và sẽ được hưởng khoan hồng xứng đáng.