Thỏa thuận trọng tài thương mại vô hiệu

 

Hiện nay, phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại đã được nhiều người lựa chọn. Tuy nhiên chỉ lực giải quyết tranh chấp bằng trọng tài khi có sự thỏa thuận lựa chọn trọng tài và thỏa thuận trọng tài phải có hiệu. Trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu thì không thể giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Vậy trường hợp nào thì thỏa thuận trọng tài vô hiệu. Văn phòng luật sư Đỗ Trung Kiên và cộng sự có bài viết để giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về vấn đề này.

Thỏa thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi phát sinh các tranh chấp, có thể là một điều khoản trong hợp đồng nhưng có tính độc lập với hợp đồng. Việc thay đổi, hủy bỏ, hợp đồng vô hiệu không làm mất hiệu lực của thỏa thuận trọng tài. Thỏa thuận trọng tài chỉ bị vô hiệu khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 18 Luật trọng tài thương mại 2010. Bao gồm các trường hợp sau:

Thứ nhất, thỏa thuận trọng tài để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của Trọng tài thì trong trường hợp này thỏa thuận trọng tài vô hiệu

Ở đây tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của trọng tài được hiểu là các tranh chấp không thuộc lĩnh vực quy định tại Điều 2 của Luật trọng tài thương mại 2010. Bao gồm:

  • Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại.
  • Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại.
  • Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài

Như vậy, các bên chỉ được thỏa thuận trọng tài nếu như một trong các bên có hoạt động thương mại, hoặc tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại hoặc pháp luật có quy định được giải quyết bằng trọng tài. Các trường hợp khác mà thỏa thuận trọng tài thì thỏa thuận trọng tài vô hiệu.

Thứ hai, người xác lập thỏa thuận trọng tài không có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.  

Trường hợp này người xác lập thỏa thuận trọng tài không có thẩm quyền được hiểu là người xác lập thỏa thuận trọng tài khi không phải là người đại diện theo pháp luật hoặc không phải là người được ủy quyền hợp pháp hoặc là người được ủy quyền hợp pháp nhưng vượt quá phạm vi được ủy quyền.

Về nguyên tắc thỏa thuận trọng tài do người không có thẩm quyền xác lập thì thỏa thuận trọng tài đó vô hiệu. Tuy nhiên, theo Nghị quyết 01/2014/NQ- HĐTP hướng dẫn Luật trọng tài thương mại 2010 thì thỏa thuận trọng tài do người không có thẩm quyền xác lập vẫn có thể có hiệu lực trong trường hợp thỏa thuận trọng tài do người không có thẩm quyền xác lập nhưng trong quá trình xác lập, thực hiện thỏa thuận trọng tài hoặc trong tố tụng trọng tài mà người có thẩm quyền xác lập thỏa thuận trọng tài đã chấp nhận hoặc đã biết mà không phản đối thì thỏa thuận trọng tài không vô hiệu.

Thứ ba, người xác lập thỏa thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự.

Theo quy định của Bộ luật dân sự 2005 có quy định người không có năng lực hành vi dân sự là người chưa đủ 6 tuổi. Theo Nghị quyết 01/2014/NQ- HĐTP hướng dẫn Luật trọng tài thương mại 2010 thì người không có năng lực hành vi dân sự được hiểu là: Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Những người không có năng lực hành vi dân sự mà xác lập thỏa thuận trọng tài thì thỏa thuận trọng tài bị vô hiệu.

Thứ tư, hình thức của thỏa thuận trọng tài không phù hợp với quy định tại Điều 16  Luật trọng tài thương mại 2010 thì thỏa thuận trọng tài vô hiệu.

Theo Điều 16 Luật trọng tài thương mại có quy định thỏa thuận trọng tài có thể được xác lập dưới hình thức điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc dưới hình thức thỏa thuận riêng. Thỏa thuận trọng tài phải phù hợp với quy định tại Điều 16 Luật trọng tài 2010 có nghĩa là thỏa thuận trọng tài được xác lập dưới dạng văn bản. Các hình thức thỏa thuận sau đây cũng được coi là xác lập dưới dạng văn bản: 

–  Thoả thuận được xác lập qua trao đổi giữa các bên bằng telegram, fax, telex, thư điện tử và các hình thức khác theo quy định của pháp luật;

–  Thỏa thuận được xác lập thông qua trao đổi thông tin bằng văn bản giữa các bên;

– Thỏa thuận được luật sư, công chứng viên hoặc tổ chức có thẩm quyền ghi chép lại bằng văn bản theo yêu cầu của các bên;

–  Trong giao dịch các bên có dẫn chiếu đến một văn bản có thể hiện thỏa thuận trọng tài như hợp đồng, chứng từ, điều lệ công ty và những tài liệu tương tự khác;

–  Qua trao đổi về đơn kiện và bản tự bảo vệ mà trong đó thể hiện sự tồn tại của thoả thuận do một bên đưa ra và bên kia không phủ nhận.

            Các trường hợp thỏa thuận trọng tài không phù hợp với quy định trên thì thỏa thuận trọng tài bị vô hiệu.

Thứ năm, trường hợp một trong các bên bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép trong quá trình xác lập thỏa thuận trọng tài và có yêu cầu tuyên bố thỏa thuận trọng tài đó là vô hiệu.

Theo Nghị quyết 01/2014/NQ- HĐTP hướng dẫn Luật trọng tài thương mại 2010 thì trường hợp một trong các bên bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép là trường hợp quy định tại Điều 4, Điều 132 của Bộ luật dân sự 2005.

Pháp luật dân sự luôn tôn trọng việc tự do cam kết, thỏa thuận giữa các bên. Tuy nhiên sự thỏa thuận này không được vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội và phải trên cơ sở sự tư nguyện của các bên, không được cưỡng ép, đe dọa.

Điều 132 BLDS 2005 có quy định về quyền yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do một bên tham gia giao dịch dân sự bị lừa dối, đe dọa. Theo đó:

Lừa dối được hiểu là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.

Đe dọa trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của cha, mẹ, vợ, chồng, con của mình.

Tương tự như quyền yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do một bên tham gia giao dịch dân sự bị lừa dối, đe dọa thì trong thỏa thuận trọng tài khi một trong các bên bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép cũng có quyền yêu cầu tuyên bố thỏa thuận trọng tài vô hiệu. Việc một trong các bên bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép trong quá trình xác lập thỏa thuận trọng tài không làm thỏa thuận trọng tài đương nhiên vô hiệu. Mà phải có yêu cầu tuyên bố thỏa thuận trọng tài vô hiệu thì mới dẫn đến thỏa thuận trọng tài vô hiệu.

Thứ sáu, thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật.

Theo Nghị quyết 01/2014/NQ- HĐTP hướng dẫn Luật trọng tài thương mại 2010 Thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật là thỏa thuận thuộc trường hợp quy định tại Điều 128 của Bộ luật dân sự 2005.

Điều 128 Bộ luật dân sự 2005 theo đó điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định, đạo đức xã hội được hiểu là là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.

Trường hợp giao dịch dân sự có mục đích và nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu.Tương tự như vậy, thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật và đạo đức xã hội thì thỏa thuận trọng tài đương nhiên bị vô hiệu.

Hậu quả pháp lý của thỏa thuận trọng tài vô hiệu:

Tùy từng giai đoạn của quá trình giải quyết tranh chấp mà việc thỏa thuận trọng tài bị vô hiệu có thể dẫn đến những hậu quả pháp lý khác nhau:

– Trước khi xem xét nội dung vụ tranh chấp, Hội đồng trọng tài phải xem xét hiệu lực của thỏa thuận trọng tài. Theo Điều 43 Luật trọng tài thương mại 2010, nếu thỏa thuận trọng tài vô hiệu thì Hội đồng trọng tài quyết định đình chỉ việc giải quyết.

– Khi có khiếu nại quyết định của Hội đồng  trọng tài về việc thỏa thuận trọng tài vô hiệu, trong trường hợp Tòa án quyết định vụ án tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài, thỏa thuận trọng tài vô hiệu thì xử lý theo Nghị quyết 01/2014/NQ- HĐTP hướng dẫn Luật trọng tài thương mại 2010: .

+ Trường hợp Hội đồng trọng tài đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ việc thì các bên có quyền thỏa thuận, lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp

+ Trường hợp vụ việc đang được Hội đồng trọng tài tiến hành giải quyết tranh chấp thì trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nai của Tòa án, Hội đồng trọng tài phải ra quyết định đình chỉ giải quyết tranh chấp.

+ Trường hợp Hội đồng trọng tài đã ra phán quyết trọng tài thì một trong các bên có quyền yêu cầu Tòa án hủy phán quyết. Phán quyết trọng tài bị hủy nếu thỏa thuận trọng tài vô hiệu

Như vậy, trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu thì vụ việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài. Các bên có thể thỏa thuận lại với nhau về thỏa thuận trọng tài hoặc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp khác như thương lượng, hòa giải, khởi kiện tại Tòa án.